Diễn giả được mời

34

Phó Giáo sư Van Thi Thu Hao

Phó giáo sư Van Thi Thu Hao Cô có bằng Tiến sĩ Vi sinh vật học phân tử và làm việc tại Trường Khoa học thuộc Đại học RMIT, Úc. Cô đã dẫn dắt các nghiên cứu được công nhận cả trong nước và quốc tế, tập trung vào việc xác định vi khuẩn gây bệnh và có lợi, đặc trưng hóa và điều chỉnh hệ vi sinh vật đường ruột, và phát triển các chiến lược can thiệp—bao gồm vắc xin cho gia cầm, men vi sinh, chất hậu sinh học và các hợp chất kháng khuẩn—để thúc đẩy sức khỏe đường ruột và sức khỏe tổng thể ở động vật và con người. Nghiên cứu gần đây của cô bao gồm công trình quan trọng về... Campylobacter các loài và các chiến lược để giảm thiểu tác động của chúng đến sức khỏe động vật và con người.

Trong 5 năm qua, bà đã huy động được hơn 144 triệu đô la Úc tiền tài trợ nghiên cứu và là diễn giả chính hoặc diễn giả được mời tại 15 hội nghị quốc gia và quốc tế. Bà đã viết hơn 120 bài báo được bình duyệt và hướng dẫn 27 nghiên cứu sinh tiến sĩ.

Yoshio Yamaoka

Giáo sư Yoshio Yamaoka

Yoshio Yamaoka Ông là Phó Hiệu trưởng Đại học Oita và Giáo sư Y học Môi trường và Dự phòng tại Khoa Y Đại học Oita, Nhật Bản. Ông cũng giữ chức giáo sư tại Khoa Y (Tiêu hóa và Gan mật) của Trường Y Baylor, Hoa Kỳ. Tiến sĩ Yamaoka nhận bằng Tiến sĩ Y khoa và Tiến sĩ Triết học từ Đại học Y tỉnh Kyoto và hoàn thành chương trình đào tạo sau tiến sĩ tại Trường Y Baylor.

 

Ông từng đảm nhiệm các vai trò lãnh đạo học thuật, bao gồm Trưởng khoa Y (2019–2021) và hiện đang phụ trách chiến lược quốc tế tại Đại học Oita. Nghiên cứu của ông tập trung vào cơ chế gây ung thư dạ dày. Vi khuẩn Helicobacter pylori sự lây nhiễm, bao gồm việc phát hiện ra các yếu tố độc lực OipA và DupA, và việc sử dụng Vi khuẩn H. pylori Ông sử dụng bộ gen để truy tìm lịch sử di cư của loài người. Ông cũng dẫn đầu các nghiên cứu dịch tễ học và gen quy mô lớn trên khắp châu Á, châu Phi và Nam Mỹ.

 

Tiến sĩ Yamaoka đã công bố hơn 450 bài báo được bình duyệt (chỉ số h là 81, Scopus), bao gồm các công trình nghiên cứu trong lĩnh vực... Lancet, Thiên nhiên, Khoa học, Khoa tiêu hóa, Và Ruột. Ông đã nhận được nhiều giải thưởng, bao gồm Giải thưởng Marshall–Warren (2023) và bốn Giải thưởng Uehara từ Hiệp hội Nghiên cứu Vi khuẩn Helicobacter Nhật Bản.

Professor Igor B. Jouline

Giáo sư Igor Jouline

Igor Jouline, Tiến sĩ, là Giáo sư được trao tặng danh hiệu Rod Sharp tại Khoa Vi sinh vật học thuộc Đại học Bang Ohio. Nghiên cứu của ông tập trung vào sự tiến hóa và cơ chế truyền tín hiệu ở vi khuẩn. Được đào tạo về sinh lý học và hóa sinh vi sinh vật cổ điển, sau đó ông chuyển sang lĩnh vực sinh học tính toán, mang lại cho ông một góc nhìn độc đáo tích hợp cả hai phương pháp "ướt" và "khô" trong vi sinh vật học.

Jouline nhận bằng Tiến sĩ vi sinh học từ Đại học Quốc gia St. Petersburg (Nga), từng là Nghiên cứu sinh của Quỹ Wellcome Trust tại Đại học Oxford (Vương quốc Anh) và là Nhà khoa học ưu tú tại Phòng thí nghiệm Quốc gia Oak Ridge thuộc Bộ Năng lượng Hoa Kỳ. Ông được bầu vào Viện Hàn lâm Vi sinh học Hoa Kỳ năm 2017 và trở thành Thành viên của Hiệp hội Khoa học Tiến bộ Hoa Kỳ năm 2019. Hiện ông đang là thành viên Ban Biên tập của tạp chí mBio.

thumbnail_Ichizo_Kobayashi

Giáo sư Ichizo Kobayashi​

Ichizo Kobayashi tiến hành nghiên cứu trong lĩnh vực Hệ gen và Biểu sinh học vi sinh vật (Microbial Genomics/Epigenomics), tập trung vào hệ thống hạn chế–biến đổi (restriction-modification systems) và bộ methylome. Ông cũng đã nghiên cứu sâu về sinh học phân tử của tái tổ hợp DNA tương đồng.

Chức vụ hiện tại: Giáo sư thỉnh giảng, Trung tâm Nghiên cứu Công nghệ Vi mô – Nano, Đại học Hosei.

Nghiên cứu viên, Viện Sinh học Cơ bản Quốc gia (National Institute for Basic Biology).

Giáo sư danh dự, Đại học Tokyo, Khoa Sinh học Tính toán và Khoa học Y sinh.

Tóm tắt sự nghiệp

Quốc tịch: Nhật Bản

1950: Ngày 17 tháng 7th. Sinh ra tại Nhật Bản.

1974: Cử nhân Khoa học, Khoa Sinh lý Sinh hóa, Khoa Khoa học Tự nhiên, Đại học Tokyo, Nhật Bản.

1979: Tiến sĩ (Ph.D.), Đại học Tokyo.

1979: Nghiên cứu viên, Viện Sinh học Phân tử, Đại học Oregon, Hoa Kỳ.

1984: Trợ lý Giáo sư, Trường Y, Đại học Tokyo.

1988: Phó Giáo sư, Viện Khoa học Y học, Đại học Tokyo.

2004-2016: Giáo sư, Khoa Khoa học Genome Y học, Trường Sau đại học Khoa học Tiên tiến, Đại học Tokyo.

Tóm tắt thành tựu nghiên cứu

Bắt đầu sự nghiệp khoa học trong sinh học phân tử của tái tổ hợp tương đồng. Sử dụng lắp ráp virus ngoài tế bào (cell-free virus assembly) để phát hiện tái tổ hợp di truyền in vivo và chứng minh rằng RecA là một enzyme tái tổ hợp (recombinase). Làm sáng tỏ vai trò của đứt đôi chuỗi DNA (DNA double-strand breaks) trong tái tổ hợp tương đồng thông qua phân tích di truyền vị trí trưởng thành bộ gen của phage. Đề xuất và chứng minh mô hình sửa chữa đứt đôi chuỗi (double-strand break repair) cho tái tổ hợp di truyền.

Phát hiện sự tấn công của hệ thống hạn chế–biến đổi lên chính tế bào vi khuẩn chủ (hiện tượng tự miễn) và khởi xướng nghiên cứu chúng như các yếu tố epigenetic ích kỷ. Chứng minh tính di động, vai trò trong tái sắp xếp bộ gen, nhân lên, chu kỳ sống giống virus, cạnh tranh lẫn nhau về trình tự nhận diện, không tương thích lẫn nhau, và điều hòa bởi một RNA nhỏ. Phát hiện enzym cắt DNA theo cơ chế loại bỏ base (base excision restriction enzymes) để mở rộng khái niệm về hệ thống hạn chế–biến đổi.

Từ việc so sánh bộ gen và methylome của H. pylori, ông đã phát hiện các cơ chế mới trong tiến hóa bộ gen, bao gồm “sao chép DNA kèm đảo chiều” và “di chuyển trình tự giữa hai vị trí miền nhận diện mục tiêu trong một gen (Domain Movement)”. Ông chứng minh rằng những thay đổi thường xuyên về tính đặc hiệu trình tự trong hệ thống hạn chế–biến đổi thông qua các cơ chế này và các quá trình khác sẽ tái cấu trúc methylome, từ đó ảnh hưởng đến transcriptome và kiểu hình thích nghi với vật chủ. Ông đề xuất rằng epigenome, chứ không phải trình tự bộ gen, là đơn vị của tiến hóa thích nghi (mô hình tiến hóa thích nghi dựa trên epigenetics).

Kết hợp thí nghiệm và mô hình/hóa mô phỏng sinh thái, ông chứng minh rằng “phòng thủ chống nhiễm trùng thông qua tự sát vị tha” có thể tiến hóa trong sự hiện diện của cấu trúc không gian. Thông qua phân tích trò chơi tiến hóa, ông xác định các điều kiện để tiến hóa các gen độc–kháng độc (toxin-antitoxin, giết sau phân tách, nghiện di truyền) và để các gen ích kỷ tồn tại lâu dài.

Huy chương Kihara từ Hiệp hội Di truyền học Nhật Bản, 2022

Giải thưởng Học thuật (Nghiên cứu Cơ bản) từ Hiệp hội Nghiên cứu Helicobacter Nhật Bản, 2017

Thomas Boren

Giáo sư Thomas Borén

Giáo sư Thomas Borén là giáo sư và điều tra viên chính (PI) tại Đại học Umeå, Khoa Sinh hóa và Sinh vật lý Y học. Thomas bắt đầu quan tâm và thực hiện các hoạt động nghiên cứu song song với việc học nha khoa, và hoàn thành bằng DDS và Tiến sĩ (PhD) lần lượt vào các năm 1985 và 1990 tại Đại học Göteborg, Thụy Điển. Sau đó, ông dành hai năm làm nghiên cứu sau tiến sĩ tại Trường Nha khoa Göteborg, nơi ông quan tâm đến glycobiology, và tiếp tục hai năm nghiên cứu sau tiến sĩ tại Đại học Washington, St. Louis. Tại WashU, ông đã phát hiện rằng H. pylori bám vào niêm mạc dạ dày bằng cách liên kết với các kháng nguyên ABO/Leb. Năm 1994, Thomas trở về Thụy Điển và bắt đầu lập phòng thí nghiệm của riêng mình tại Khoa Vi sinh, Đại học Umeå. Tại đây, ông xác định protein bám tương ứng của H. pylori, BabA, và sau đó là adhesin SabA và ligand của nó là các kháng nguyên sialyl-Lewis x/a. Năm 2004, Thomas được tuyển dụng vào vị trí giáo sư hiện tại tại Khoa Sinh hóa và Sinh vật lý Y học. Nghiên cứu của Thomas tập trung vào các protein bám của Helicobacter, vai trò của chúng trong việc thiết lập thành công nhiễm trùng mãn tính và viêm, với mục tiêu ứng dụng chúng làm ứng cử viên vaccine chống lại các bệnh dạ dày và ung thư do H. pylori gây ra. Dự án nghiên cứu của ông đã công bố nhiều bài báo trên ScienceCell Host Microbe, bên cạnh các tạp chí chuyên ngành khác. Ông là thành viên Ban Điều hành của “Hội thảo Quốc tế về Cơ chế gây bệnh trong các nhiễm trùng Helicobacter”.

Assoc. Prof. Duc Trong Quach MD, PhD

Phó Giáo sư - Bác sĩ Quách Trọng Đức

PGS.TS. Quách Trọng Đức là Phó Giáo sư chuyên ngành Tiêu hóa và hiện giữ chức Phó Trưởng khoa Nội, Trường Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh (UMCH). Ông đồng thời là Phó Chủ tịch Hội Tiêu hóa Việt Nam (VNAGE) và Tổng Thư ký Liên Chi hội Nội soi Tiêu hóa Việt Nam (VFDE). Năm 2005, ông nhận học bổng Nghiên cứu sinh của Hội Tiêu hóa Nhật Bản và sau đó hoàn thành chương trình đào tạo nâng cao của Hiệp hội Nội soi Tiêu hóa Châu Á – Thái Bình Dương vào năm 2009. Ông nhận bằng Tiến sĩ chuyên ngành Tiêu hóa tại UMCH năm 2011. PGS Đức đã công bố hơn 150 bài báo tổng quan và nghiên cứu gốc trên các tạp chí trong nước và quốc tế. Lĩnh vực quan tâm của ông bao gồm trào ngược dạ dày – thực quản (GERD), rối loạn chức năng tiêu hóa, Helicobacter pylori, chiến lược tầm soát ung thư đường tiêu hóa giai đoạn sớm và nội soi can thiệp nâng cao. Ông từng nhận nhiều giải thưởng danh giá, bao gồm: - Giải Báo cáo Xuất sắc tại Hội nghị Khoa học toàn quốc lần thứ 14 của các Trường Đại học Y – Dược Việt Nam (2008). Huy hiệu Sáng tạo của Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Việt Nam (2008). Giải thưởng Chương trình Bác sĩ trẻ tại Đại hội Tiêu hóa Thế giới (2009). Giải Giảng viên Xuất sắc, Khoa Y, Đại học Y Dược TP.HCM (2020).

Untitled design - 2025-07-16T094956.167

Phó Giáo sư Li Zhang

Tiến sĩ Li Zhang là Phó Giáo sư tại Đại học New South Wales (UNSW). Bà nhận bằng MBBS từ Đại học Fudan, Trung Quốc và Tiến sĩ (PhD) từ Đại học Cambridge, Vương quốc Anh. Trước khi theo học Tiến sĩ, bà đã làm bác sĩ lâm sàng tại Bệnh viện Hữu nghị Trung-Nhật, Bắc Kinh.

Nghiên cứu của Tiến sĩ Zhang tập trung vào việc khám phá các loài vi khuẩn liên quan đến các bệnh viêm đường tiêu hóa. Bà đã thực hiện các nghiên cứu tiên phong về vai trò của các loài Campylobacter thường tồn tại trong khoang miệng người trong việc gây viêm khi chúng cư trú ở các phần khác của đường tiêu hóa. Một ví dụ điển hình là Campylobacter concisus, loài này có liên quan đến sự phát triển của bệnh viêm ruột ở người (IBD). Công trình của bà đã dẫn đến phát hiện các plasmid vi khuẩn mới và vai trò của chúng trong điều hòa hệ miễn dịch niêm mạc ở người. Hướng nghiên cứu thứ hai của nhóm Tiến sĩ Zhang tập trung vào các loài Aeromonas, các tác nhân vi khuẩn đường ruột mới nổi, gây nhiễm trùng tiêu hóa với mức độ từ nhẹ, tự giới hạn đến lỵ. Gần đây, nhóm của bà đã có phát hiện quan trọng, chỉ ra rằng Aeromonas là tác nhân vi khuẩn đường ruột phổ biến thứ hai ở Úc, với mô hình nhiễm trùng ba đỉnh đặc trưng theo độ tuổi bệnh nhân. Hiện tại, nhóm đang nghiên cứu nguồn gốc lây nhiễm và cơ chế gây bệnh của Aeromonas ở mức độ từng loài.

Để biết thêm thông tin về Tiến sĩ Li Zhang, vui lòng truy cập https://research.unsw.edu.au/people/associate-professor-li-zhang.

Untitled design (16)

Phó Giáo sư Ngô Thị Hoa

Phó Giáo sư Hoa hoàn tất chương trình Tiến sĩ (PhD) về vi sinh học phân tử tại Royal Holloway, Đại học London, Vương quốc Anh vào năm 2001 dưới sự hướng dẫn của Giáo sư Cutting. Nghiên cứu sau tiến sĩ (postdoc) của bà tại Trường Dịch tễ học và Y tế Công cộng, Đại học Yale, Mỹ được Quỹ Wellcome Trust tài trợ thông qua Học bổng Du học (Travelling Fellowship), quỹ này tiếp tục hỗ trợ bà trở về Việt Nam và gia nhập Đơn vị Nghiên cứu Lâm sàng Đại học Oxford (OUCRU), TP. HCM, Việt Nam vào năm 2005.

Tại OUCRU, Phó Giáo sư Hoa lãnh đạo nhóm nghiên cứu bệnh truyền từ động vật sang người và vi sinh vật, thực hiện điều tra về tỷ lệ phổ biến, độc lực và kháng kháng sinh của các mầm bệnh vi sinh, bao gồm E. coli, Salmonella không gây thương hàn, S. suis, S. pneumoniae, B. pertussisH. pylori.

Bà cũng lãnh đạo Đơn vị Ký sinh trùng và Vi sinh, thuộc Trung tâm Nghiên cứu Y sinh, Đại học Y Phạm Ngọc Thạch, TP. HCM, Việt Nam. Tại đây, dự án của bà nhằm xác định mối liên hệ giữa các yếu tố môi trường với nhiễm trùng ở người, cũng như đánh giá khả thi việc triển khai xét nghiệm tại điểm chăm sóc để phát hiện nhiễm Talaromyces marneffei tại Việt Nam.

Professor Christine Szymanski

Giáo sư Christine Szymanski

Christine Szymanski lần đầu tiên bắt đầu làm việc với Campylobacter jejuni Trong thời gian làm luận án tiến sĩ tại Khoa Vi sinh Y học và Miễn dịch học, Đại học Alberta ở Edmonton, Canada, bà đã tham gia Chương trình Vắc xin Bệnh đường ruột tại Trung tâm Nghiên cứu Y học Hải quân ở Silver Spring, Maryland để làm nghiên cứu sau tiến sĩ trước khi bắt đầu sự nghiệp nghiên cứu độc lập của riêng mình, đầu tiên tại Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia ở Ottawa, Canada và sau đó trở lại Đại học Alberta. Chính tại Edmonton, bà đã thành lập công ty VaxAlta Inc., tập trung vào các loại vắc xin dựa trên carbohydrate. Christine gia nhập Đại học Georgia vào năm 2016, nơi bà tiếp tục: 1) mô tả đặc điểm các con đường glycoconjugate của vi khuẩn, 2) khai thác các protein nhận dạng thực khuẩn thể liên kết với các cấu trúc này, và 3) hiểu được lợi ích bảo vệ của oligosaccharide sữa chủ để phát triển các liệu pháp và vắc xin mới nhằm phòng ngừa các bệnh tiêu chảy và bệnh thần kinh sau nhiễm trùng như Hội chứng Guillain-Barré. Bà là thành viên của Viện Hàn lâm Vi sinh vật học Hoa Kỳ, thành viên cao cấp của Viện Hàn lâm các nhà phát minh quốc gia, người nhận Giải thưởng Glycomics tưởng niệm Peter Gallagher từ Đại học Griffith và Giáo sư nghiên cứu ưu tú của Đại học Georgia.

Daniel Falush

Daniel Falush

Daniel Falush Ông là một nhà di truyền học thống kê làm việc tại Viện Dược liệu Thượng Hải. Ông phát triển các phương pháp phân tích sự đa dạng của vi khuẩn và con người, và đã áp dụng cả hai phương pháp này vào nghiên cứu. Vi khuẩn Helicobacter pylori, xác định các quần thể hiện đại và tổ tiên, và gần đây là các loài sinh thái Hardy. Công trình này đã chỉ ra rằng H. pylori  Nó lan rộng khắp thế giới cùng với con người nhưng cũng có lịch sử riêng liên quan đến sự thích nghi với chế độ ăn uống và hệ thống miễn dịch, cũng như có thể đã xảy ra các sự kiện siêu lây nhiễm bất thường.